Trồng mắc-ca ở Tây nguyên – Cơ hội và thách thức.
Cà
phê được xem là cây trồng chủ lực của
vùng Tây Nguyên, trên 90% diện tích cà phê của Việt Nam tập trung ở vùng này,
đem lại giá trị cao về mặt kinh tế. Tuy nhiên, nhiều diện tích cà phê của Tây
Nguyên đã hết chu kỳ sản xuất, già hóa theo thời gian, năng suất sụt giảm.
Ngoài hướng cần phải tái canh, trồng mới lại để cải thiện năng suất và chất lượng
thì giải pháp đưa cây mắc-ca vào trồng thay thế và phát triển cũng là một chiến
lược đáng nghiên cứu.
Thông tin chung về cây
mắc-ca:
Đặc
điểm sinh học: Cây mắc-ca có tên gọi chung là
Macadamia hoặc Australia nut hoặc Queenland nut, gồm hai loài là: loài vỏ hạt
trơn (Macadamia integrifolia Maiden & Betche) và loài vỏ hạt sần (Macadamia
tetraphylla L. Jhonson) và giống lai giữa hai loài này. Cây cho quả ở tuổi
3, bắt đầu sai quả ở tuổi 10, đến tuổi 12 sản lượng quả lại tăng gấp đôi so với
tuổi 10. Thời kỳ sai quả của cây có thể kéo dài tới tuổi 60 và tuổi thọ cây có
thể đến 100 năm.
Công dụng chính:
-
Hạt mắc-ca: có hương vị thơm ngon nhất trong các loại hạt
dùng để ăn và được mệnh danh là Hoàng hậu quả khô.
-
Dầu mắc-ca:
chứa hàm lượng acid béo không no
(84%) chỉ đứng sau dầu Sở (97%) đây là thứ chất béo mà thế giới hiện đại rất
coi trọng vì ít dẫn tới nguy cơ tích tụ colesteron trong cơ thể người và rất
phù hợp với nhu cầu làm dung môi trong mỹ phẩm.
-
Vỏ quả: thường được nghiền làm thức ăn gia súc.
-
Vỏ hạt: có ít giá trị hơn, tại các xưởng chế biến thường dùng vỏ hạt
làm nhiên liệu, hoặc nghiền làm vật liệu hữu cơ độn bầu ươm cây, độn đất chậu cảnh.
Với
những ưu thế vượt trội cả về giá trị kinh tế lẫn giá trị sử dụng, cây mắc-ca
đang được coi là niềm hy vọng “tỷ đô” cho bà con khu vực Tây Nguyên. nhận thấy
được tiềm năng to lớn ấy, ngành cây công nghiệp đòi hỏi việc nắm bắt thời cơ để
phát triển và khắc phục những khó khăn thách thức.
CƠ HỘI
Thứ
nhất, mắc-ca
rất phù hợp để phát triển tốt với điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên. Hiện
nay, Tây Nguyên có 5 triệu hecta đất ba-zan màu mỡ, chiếm 60% đất ba-zan cả nước,
cùng với khí hậu, hệ sinh thái đa dạng hợp thành các điều kiện thuận lợi phát
triển các loại cây công nghiệp nói chung và cây mắc-ca nói riêng. Thật vậy, mắc-ca
được trồng ở đây cho năng suất cao, cỡ hạt lớn, ít sâu bệnh, cây có bộ tán cân
đối, vững chắc.
Thứ
hai, tránh
rủi ro khi độc canh. Nếu chỉ trồng một loại
cây, do các điều kiện thời tiết, khí hậu, dịch sâu bệnh khó kiểm soát, người
nông dân có thể mất trắng cả mùa vụ, điều này có thể khắc phục bằng cách xen
canh. Mắc-ca có thể làm cây che bóng cho cà phê hoặc trồng thành rừng nhưng vẫn
cho thu nhập không nhỏ hằng năm. Tuy nhiên, trồng xen với cà phê chè tại Bảo Lộc
(Lâm Đồng) cây sinh trưởng tốt hơn so với trồng xen ca cao hoặc xen với cà phê
vối tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk).
Thứ
ba, trồng
mắc-ca đang mở ra cơ hội mới với những địa bàn thiếu nước hoặc thổ nhưỡng.
Với đặc điểm chịu hạn tốt, mắc-ca vẫn sinh trưởng trong điều kiện đất trồng thiếu
nước, khắc phục được điểm hạn chế so với trồng cà phê và hồ tiêu. Nhờ vậy mà mở
rộng diện tích canh tác, tăng thêm lợi ích kinh tế cho người dân nơi đây.
Thứ
tư, mắc-ca
đem lại hiệu quả kinh tế cao về mặt lâu dài, tăng thu nhập cho người trồng.
Với thời kì sai quả của cây kéo dài 60 năm, tuổi thọ lên đến 100 năm, năng suất
4 – 5 kg hạt/cây, có cây cho tới 7-8 kg hạt. Giá trị mắc-ca thô trên thị trường
1,5-2 USD/kg, giá trị thu được từ 4.500-6.000 USD/ha trở lên. So với cà phê hiện
nay chỉ thu từ 3.500-4.000 USD/ha thì thu nhập từ cây mắc-ca, với năng suất
trên 3 tấn hạt thô/ha, cao hơn nhiều.
Thứ
năm, nâng
cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh mắc-ca trên thị trường
nội địa. Với mức giá như hiện nay, 1 kg nhân hạt
mắc-ca thành phẩm sản xuất trong nước lên tới 700 nghìn đồng/kg, tương đương
hơn 33 USD/kg. Trong khi, giá nhân hạt mắc-ca thành phẩm nhập khẩu từ Úc hiện
là 950 nghìn đồng/kg, tương đương khoảng 45 USD/kg, cao hơn 36% thì người tiêu
dùng sẵn sàng mua trong nước nếu như chất lượng sản phẩm tương đương.
Thứ
sáu, nâng
cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế về sản lượng và sản xuất, chế biến mắc-ca.
tổng sản lượng mắc-ca toàn thế giới hiện tại chỉ có
khoảng 120.000 tấn, mới chỉ đáp ứng khoảng ¼ nhu cầu thị trường, tức là vẫn thiếu
từ 50% đến 60%, trong đó các nước có nhu cầu sử dụng nhiều nhất là Trung Quốc,
Mỹ, Đức, đây là cơ hội của Việt Nam, nếu nước ta phát triển được 200.000
ha thì chúng ta sẽ dẫn đầu thị trường thế giới.
THÁCH THỨC
Bên
cạnh những cơ hội to lớn, một viễn cảnh mới, việc trồng cây mắc-ca ở Tây Nguyên
cũng có những thách thức nhất định.
Thứ nhất, về công tác chọn giống, dù
được đưa vào trồng thử nghiệm ở nước ta từ năm 1994, song đây vẫn là loài cây mới.
Giống nhập ngoại có giá thành khá cao, khoảng vài trăm nghìn một cây. Giống do
người nông dân tự ươm ầm có giả rẻ hơn (20-30 nghìn đồng/cây) song lại không đảm
bảo chất lượng. Trồng mắc-ca bằng cây hạt năng suất chỉ bằng 1/4 đến
1/2 năng suất trồng bằng cây ghép của những giống cao sản đã được đánh giá qua
khảo nghiệm.
Thứ
hai, khó
đậu hoa, ẩn chứa tỉ lệ rủi ro đáng kể nếu quy trình trồng và chăm sóc không hợp
lí. Cây mắc-ca rất nhiều hoa, mỗi chùm bông hình đuôi sóc có từ 100-300
hoa, nhưng tỉ lệ đậu quả lại rất thấp, chỉ đạt 0,1 - 0,3%, khí hậu không thuận
lợi có thể hoàn toàn không đậu quả. Ra hoa, đậu quả đòi hỏi một nhiệt độ ổn định
và thấp (khoảng 18-25 độ C), phải kéo dài trong vài tháng.
Thứ
ba, về
năng suất, chất lượng. Do là giống cây mới nên
người dân chưa có đầy đủ kinh nghiệm về canh tác, chăm sóc nên năng suất có thể
chưa cao như các nước khác như Úc, Nam Phi..., mặt khác tỉ lệ nhân trong hạt thấp
(4 kg hạt tốt được 1kg nhân), tỉ lệ hao hụt trong sấy khô cao. Vỏ hạt rất cứng
cần đầu tư thiết bị chế biến đặc biệt, yêu cầu chất lượng thành phẩm rất cao.
Thứ tư,
về chiến lược, kế hoạch về quy hoạch vùng
trồng. Không phải vùng nào ở Tây Nguyên cũng trồng được mắc-ca. Thực tế cho
thấy, nếu trồng ở những nơi có điều kiện khí hậu quá nóng, cây sẽ không cho quả.
Là cây tự thụ phấn và thụ phấn chéo, nếu trồng đơn lẻ, trồng xen có thể năng suất
sẽ không cao nhất có tể đạt được. Hơn nữa, vùng trồng còn manh mún, nhỏ lẻ.
Thứ
năm,
rủi ro cho người trồng. Lợi nhuận trồng mắc-ca
phụ thuộc rất lớn vào giá thị trường đầu - cuối chuỗi giá trị, và giá cả khó dự
báo. Người quyết định sẽ là các Cty đa quốc gia về thực phẩm cao cấp, mỹ phẩm
và các tác nhân nắm công nghệ cao về chế biến, người làm ra sản phẩm sơ cấp chịu
nhiều rủi ro hơn.
GIẢI PHÁP
Để
tháo gỡ, giảm thiểu những khó khăn mà các thách thức trên mang lại, một số giải
pháp được kiến nghị và đề xuất như sau:
Về phía Nhà nước.
Một
là,
Đề nghị các bộ, ngành có liên quan sớm xây dựng
chương trình quốc gia về phát triển cây mắc-ca ở Tây Nguyên liên quan đến các nội
dung như: khả năng phát triển mắc-ca, chính sách quy hoạch phát triển nhằm bảo
đảm phát triển bền vững, mô hình đầu tư trồng và chuỗi giá trị cây mắc-ca, vùng
trọng điểm trồng, thị trường cho các sản phẩm mắc-ca trong bối cảnh cạnh tranh
quốc tế…
Hai
là, ban hành chính sách khuyến khích, thu
hút doanh nghiệp đầu tư vốn, công nghệ sản xuất và chế biến sản phẩm nhằm nâng
cao hiệu quả trồng, sản xuất và chế biến mắc-ca.
Về phía các cấp chính
quyền địa phương Tây Nguyên: phối hợp với các chuyên
gia, kĩ sư lâm nghiệp đầu ngành để xây dựng chương trình, kế hoạch và triển
khai thực hiện việc phát triển cây mắc-ca bảo đảm thiết thực, hiệu quả, nhằm
đưa mắc-ca trở thành cây công nghiệp chiến lược mới ở khu vực Tây Nguyên.
Về phía người nông dân,
Một
là,
lựa chọn kĩ càng giống cây trước khi đưa vào trồng
và chăm sóc. Nên lựa chọn những giống có xuất xứ cụ thể, rõ ràng, được kiểm định
chất lượng của các cơ quan chức năng, tránh tham rẻ mà mua hàng kém chất lượng,
trồng nhiều nhưng cây không ra hoa kết quả.
Hai
là, tham khảo, nghiên cứu một cách chi tiết
cụ thể về các kĩ thuật trồng, chăm bón, thu hoạch cây mắc-ca trên từ các tài liệu
chính thống, học hỏi kinh nghiệm những người đi trước đã thành công, tránh tình
trạng cây trồng đến vụ nhưng năng suất thu hoạch không như mong đợi.
Bằng
việc xác định một cách rõ ràng những cơ hội, khó khăn đề xuất giải pháp nêu
trên, hi vọng Tây Nguyên sớm thành công trong việc phát triển mắc-ca thành cây
chiến lược, đem lại hiệu quả kinh tế cao, trở thành “Vương quốc mắc-ca” trong
tương lai.
Thảo Vũ ( Ban Chuyên môn )