12 ĐỊNH NGHĨA VỀ KẾ TOÁN TRÊN THẾ GIỚI
Wednesday, April 2, 2014
Định nghĩa 1: Khái niệm hướng đến phương pháp. Đây là loại khái niệm mà Luca Pacioli
(1447-1517) – nhà toán học vĩ đại người Ý có nhiều đóng góp cho ngành kế toán
thế giới, đã đưa ra cuốn “Chú giải về tài khoản và các bút toán” mà theo đó,
“có 3 điều kiện cần thiết cho bất cứ ai muốn kinh doanh: thứ
nhất, là phải có tiền; thứ hai, người chủ doanh nghiệp phải có khả năng tính
toán nhanh và đồng thời biết lập sổ sách kế toán; và điều kiện sau cùng là phải
có khả năng tổ chức công việc một cách khoa học, linh động nhằm đảm bảo tiến độ
hoạt động kinh doanh”.
Định nghĩa 2: Khái niệm hướng đến nội dung, cốt lõi vấn đề. Đại diện
tiêu biểu của trường phái này là nhà kinh tế học nổi tiếng của Pháp J.Furaste,
ông cho rằng “hệ thống kế toán là một lĩnh vực khoa học hiện đại với mục đích
tính toán giá trị tài sản của doanh nghiệp, đồng thới xác định giá trị của vốn
đầu tư”. Khái niệm này chỉ ra hình thức tồn tại của quy trình kế toán mà chưa
nêu ra được lý do của việc tính toán giá trị tài sản cũng như việc xác định vốn
đầu tư của doanh nghiệp.
Định nghĩa 3: Khái niệm nghiêng về mục đích, kết quả. Cuối thế kỷ 19, nhiều kế toán viên nhận ra một
thực tế rằng, người ta cần hệ thống sổ sách giấy tờ kế toán không phải chỉ để
đánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp hay giá trị vốn đầu tư mà nhằm mục đích
quản lý. Chính vì vậy mà E. Pizani – một kế toán viên người Ý đã đưa ra một định
nghĩa về kế toán như sau: “Kế toán là khoa học sử dụng các phép tính toán, dựa
trên các quy định của pháp luật và kinh tế nhằm mục đích quản lý đồng thời để đạt
được những hiệu quả kinh tế khả quan nhất”.
Định nghĩa 4: Theo Sokolov, một chuyên gia hàng đầu về kế
toán tại Nga thì “kế toán là ngôn ngữ của các ký hiệu cũng như quy ước sử dụng
và được tạo ra với mục đích làm thay thế các đối tượng thực tế bằng các ký hiệu
hay biểu tượng, cho phép phản ánh một cách trung thực hoạt động kinh doanh cùng
các kết quả của hoạt động kinh doanh đó” Sokolov
cũng đưa ra hai khái niệm về kế toán. Xét về khía cạnh lý thuyết, “kế toán
chính là khoa học về bản chất cũng như cấu trúc các sự kiện diễn ra trong cuộc
sống, trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán là phản
ánh nội dung của các quá trình hoạt động kinh doanh cũng như mối liên hệ giữa
các phạm trù luật pháp và phạm trù kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh
đó.”
Còn nếu xét từ khía cạnh thực tế, “kế toán là một quá trình theo dõi, phân loại, tổng hợp, phân tích và chuyển tải thông tin về các sự kiện xảy ra trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán xét từ khía cạnh này là việc đưa ra các nguồn thông tin phục vụ cho mục đích quản lý”.
Còn nếu xét từ khía cạnh thực tế, “kế toán là một quá trình theo dõi, phân loại, tổng hợp, phân tích và chuyển tải thông tin về các sự kiện xảy ra trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán xét từ khía cạnh này là việc đưa ra các nguồn thông tin phục vụ cho mục đích quản lý”.
Định nghĩa 5: Một định nghĩa về kế toán được chấp nhận trong
suốt thời gian qua là định nghĩa được trình bày trong “Báo cáo về lý thuyết kế
toán căn bản” ban hành bởi Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ: “Kế toán là một tiến trình
ghi nhận, đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ cho các đánh
giá và các quyết định của người sử dụng thông tin”.
Định nghĩa 6: Ủy ban nguyên tắc kế toán của Mỹ (APB), trong
thông báo số 4, đã định nghĩa. “Kế toán là một dịch vụ. Chức năng của nó là
cung cấp thông tin định lượng được của các tổ chức kinh tế, chủ yếu là thông
tin tài chính giúp người sử dụng đề ra các quyết định kinh tế”.
Định nghĩa 7: Ủy ban thuật ngữ của học viện kế toán viên
công chứng của Mỹ (AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi
chép, phân loại và tổng hợp theo một phương pháp riêng có dưới hình thức tiền tệ
về các nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế và trình bày kết quả của nó cho người sử
dụng ra quyết định”.
Định nghĩa 8: Giáo sư, Tiến sĩ Robert Anthony – một nhà
nghiên cứu lý luận kinh tế nổi tiếng của trường Đại học Harvard của Mỹ cho rằng
“Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”.
Định nghĩa 9: Giáo sư, tiến sĩ Grene Allen Gohlke của Viện Đại
Học Wisconsin lại định nghĩa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi
nhận, phân loại, tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức,
giúp cho Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra các quyết định kinh tế”.
Định nghĩa 10: Trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”,
Ronnald J. Thacker nêu quan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp
thông tin cho công tác quản lý. Theo Ronnald J. Thacker: “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin
cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức”.
Định nghĩa 11: Theo Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế
(International Auditing Practices Committee) thì “Một hệ thống kế toán là hàng
loạt các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử
lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”.
Định nghĩa 12: Khi định nghĩa về kế toán, Liên đoàn kế toán
quốc tế (IFAC) cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại tổng hợp
theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà
chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”.
Tiến hành
phân tích các định nghĩa kế toán, chúng ta thấy nổi lên các quan điểm sau: KẾ TOÁN
LÀ NGHỆ THUẬT HAY KHOA HỌC ?
Có khái
niệm cho rằng “Kế toán là nghệ thuật”, có khái niệm cho rằng “Kế toán là khoa học”,
có khái niệm cho rằng kế toán là một hoạt động “dịch vụ” và ngụ ý kế toán bao
hàm những kỹ thuật nhằm để sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định, dịch vụ ở đây
cũng hàm ý là “Kế toán là nghệ thuật”.
Đã có nhiều
cuộc tranh luận với những quan điểm khác nhau: “Kế toán là một nghệ thuật hay một
khoa học?”
Những người
cho rằng kế toán là một nghệ thuật, đề nghị các kỹ năng của kế toán cần thiết
cung cấp để trở thành nhà kinh doanh giỏi, phải được giảng dạy và cách tiếp cận
hợp pháp với kế toán phải được đảm bảo.
Những người
ủng hộ kế toán là một khoa học đề nghị thay vì giảng dạy các mô hình đo lường của
kế toán cho các sinh viên chuyên ngành kế toán, thì cung cấp cho họ những cái
nhìn thấu đáo hơn về quan điểm đối với kế toán qui ước, thừa nhận con số phát
sinh đang cố gắng như thế nào để thoả mãn mục tiêu phục vụ các nhu cầu của người sử dụng; và gợi ý những suy nghĩ
về lĩnh vực đó và những động lực thay đổi của kế toán.
Cho dù có
những quan điểm khác nhau, nhưng phần đông các quan điểm cho rằng kế toán là một
khoa học lý luận phù hợp hoàn hảo với quan điểm hiện nay được Mantz phát biểu:
“Kế toán có quan hệ với các doanh nghiệp mà chắc chắn là những nhóm người trong
xã hội, nó quan tâm đến các giao dịch và những sự kiện kinh tế khác mà có hậu
quả về mặt xã hội và ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội và có ý nghĩa cho người
làm việc trong các hoạt động có liên quan với xã hội, tóm lại kế toán là một
khoa học xã hội”.
Trong nền
kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều bình đẳng trong
quá trình kinh doanh, mối quan hệ kinh tế tài chính của các doanh ghiệp được mở
rộng. Mặt khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã
làm cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán trở nên đa dạng hơn. Mục đích của kế
toán không chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước,
mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng như ngân hàng, các nhà đầu tư tương
lai, nhà cung cấp, khách hàng,… Vì vậy, định nghĩa kế toán nhấn mạnh đến chức
năng cung cấp thông tin – và chức năng này được coi là chức năng cơ bản nhất của
kế toán. Các định nghĩa sau này kể cả Việt nam, cũng như các nước trên thế giới
đều nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin của kế toán.
Như vậy,
để định nghĩa về kế toán cần phải dựa vào bản chất của kế toán – mà bản chất
này lại tùy thuộc vào hình thái kinh tế xã hội – nơi hoạt động kế toán diễn ra.
Sưu tầm
(Nguồn: vietsourcing.com)
Vân Anh (Ban Đối nội)
(Nguồn: vietsourcing.com)
Vân Anh (Ban Đối nội)
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Post a Comment