Home
» Chuyên môn
» Kinh nghiệm của các nước trong vấn đề giải quyết nợ xấu & Các mô hình AMC điển hình
Kinh nghiệm của các nước trong vấn đề giải quyết nợ xấu & Các mô hình AMC điển hình
Wednesday, August 20, 2014
Qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới, mỗi nước đều có
cách làm riêng để xử lý các tài sản rủi ro và nợ xấu, nhằm lưu thông dòng vốn
trong nền kinh tế.
Mỹ một mặt mạnh tay bơm vốn giải cứu ngân hàng nhưng lại không can thiệp
sâu vào điều hành. Trung Quốc thành công nhờ trực diện xử lý nợ xấu doanh
nghiệp nhà nước trong khi Nhật sẵn sàng cho tự sụp đổ nếu ngân hàng quá yếu
kém. Còn Malaysia, với mô hình Danaharta, đã giải phóng thành công 70% nợ xấu
nhờ trao cho tổ chức AMC này khung khổ pháp lý đặc biệt.
Với Mỹ: Cuộc khủng hoảng tài chính Phố Wall năm
2008 bắt nguồn từ bong bóng bất động sản tan vỡ – tình cảnh khá tương đồng với
Việt Nam hiện nay. Để giải cứu những tổ chức tín dụng sắp “chết”, Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ (Fed) quyết định bơm 700 tỷ USD.
Lượng tiền này được phân bổ một phần để mua lại nợ xấu ngân hàng thương
mại, một phần dùng để giải quyết thanh khoản tạm thời cho những đơn vị yếu kém.
Phần còn lại – nhưng chiếm tỷ trọng lớn – là để mua cổ phiếu ưu đãi của các
ngân hàng.
Với mục đích thứ ba, Fed lựa chọn mua cổ phiếu ưu đãi thay vì loại phổ
thông. Cổ phiếu ưu đãi được hưởng mức cổ tức cố định, không phụ thuộc vào khả
năng sinh lời nhưng lại không có quyền tham gia vào việc điều hành ngân hàng.
Fed chỉ muốn đẩy một ít dòng tiền để ngân hàng có vốn đầu tư và thoát
khỏi tình trạng tồi tệ – về mặt bản chất chính là Fed cho vay – nhưng họ chủ
trương nắm quyền kiểm soát các ngân hàng nên việc họ chọn loại cổ phiếu ưu đãi
như phân tích ở trên là rất thích hợp.
TS. Nguyễn Trí Hiếu – chuyên gia ngân hàng từng có kinh nghiệm làm việc
ở Mỹ – nhìn nhận, cả 3 phương án của Mỹ đều phù hợp. Theo tính toán của ông,
Việt Nam cần khoảng 7 tỷ USD (tương đương hơn 140.000 tỷ đồng) để mua lại nợ
xấu như phương án thứ nhất của Mỹ. Nếu để ngân hàng tự bán nợ xấu sẽ gây thiệt
hại thêm bởi với chất lượng nợ như vậy, tỷ lệ chiết khấu rất cao, có thể lên
tới 80%-90%.
Phương án mua lại cổ phần giống như Mỹ cũng thích hợp với Việt Nam. Nhà
nước không can dự vào công tác điều hành, quản lý sẽ tạo cơ hội tốt cho các
ngân hàng tự tái cơ cấu. Lãnh đạo một ngân hàng thương mại cho rằng khi xử lý
nợ xấu, với người đi vay chỉ đơn giản là thay đổi chủ nợ từ ngân hàng sang
Chính phủ.
Do đó, nếu ngân hàng “bó tay”, Chính phủ nên can thiệp vì chắc chắn sẽ
thu hồi món nợ tốt hơn ngân hàng. Thậm chí, doanh nghiệp có thể có những “thực
đơn” đa dạng hơn để tái đầu tư, phục hồi sản xuất.
Trung Quốc: Cuối năm 1999, đầu 2000, nợ dưới chuẩn thực
tế tại nhiều ngân hàng thậm chí còn vượt 40%. Ông Hubert Knapp, Giám đốc điều
hành, Dịch vụ Tư vấn Tài chính của Ernst & Young tại Việt Nam cho biết, một
yếu tố khiến Trung Quốc thành công là xử lý triệt để các khoản nợ xấu, trong đó
tỷ lệ lớn là nợ ở khối doanh nghiệp Nhà nước.
Như vậy, khá tương đồng với Việt Nam, nợ của khối doanh nghiệp nhà nước
tại Trung Quốc chiếm tới 70% tổng dư nợ. Khi đó, Trung Quốc lập 4 công ty quản
lý tài sản để xử lý toàn bộ nợ dưới chuẩn ước tính lên tới 670 tỷ nhân dân tệ
và trao quyền ngoại lệ cho những công ty này.
Ngoài ra, Trung Quốc còn chi 40 tỷ ngân sách của năm 1998 để xóa nợ cho
doanh nghiệp Nhà nước và tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại bằng phát
hành trái phiếu Chính phủ. Ông Hubert cho rằng với nhiều điểm tương đồng, Việt
Nam nên tham khảo những biện pháp quyết liệt của Trung Quốc.
Nhật Bản: Đầu những năm 2000 hứng chịu hàng nghìn
tỷ yên nợ xấu với nguyên nhân tương tự Mỹ năm 2008 đến từ bong bóng bất động
sản. Ban đầu, Nhật Bản bơm hàng nghìn tỷ yên vào các ngân hàng lớn hoặc lập
hàng loạt các quỹ đầu tư có vốn góp của cả tư nhân để mua lại nợ xấu.
Tuy nhiên, cả hai cách này đều chỉ như muối bỏ bể. Sau khi loay hoay
nhiều phương sách nhưng vẫn thất bại, Nhật quyết định quốc hữu hóa các ngân
hàng, loại bỏ các cổ đông, cho các nhà băng yếu kém nhiều nợ xấu tự sụp đổ… và
đã thành công.
Malaysia: Danaharta – với thời gian hoạt động 7 năm
(1998-2005), đã đạt được những kết quả ấn tượng và nổi trội so với các AMC của
Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan. Trong khi giá trị hồi phục (recovery value) của
các AMC nằm trong khoảng từ 20-50% thì các khoản nợ xấu của Danaharta có giá
trị hồi phục đến 58%.
Khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã làm đồng Ringgit mất đến 50% giá
trị, niềm tin tiêu dùng suy giảm trầm trọng. Nếu như các khoản nợ xấu tại thời
kỳ ngay trước khủng hoảng dao động từ 2-3% thì khi bong bóng vỡ ra, tỷ lệ nợ
xấu tăng lên hai con số, đỉnh điểm vào tháng 8/1998 khi nợ xấu lên đến 11,4%.
Đối mặt với khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Malaysia buộc phải lập ra 3
tổ chức để giảm nợ xấu, lành mạnh hệ thống tài chính và khôi phục lại đà tăng
trưởng: Danaharta để xử lý nợ xấu, CDRC để thỏa thuận với các ngân hàng có nợ
xấu, SPV để bơm vốn cho hệ thống tài chính. Trong đó Danaharta là trung tâm của
kế hoạch.
Với tỷ lệ nợ xấu lên 11,4% vào tháng 8/1998, nhiệm vụ của Danaharta là
đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 10%. Tuy nhiên AMC này đặt ra mục tiêu chỉ mua những
khoản nợ xấu trên 5 triệu Ringit, tức là gần 70% tổng nợ xấu trong hệ thống tài
chính. Điều này tương đương với khoảng từ 2.000 đến 3.000 khoản nợ xấu, một con
số khả thi với năng lực xử lý của Danaharta trong thời gian 5 năm.
Với nợ có đảm bảo, giá mua được Danaharta xác định dựa vào giá trị hợp
lý (FV) của tài sản thế chấp. Danaharta chỉ chấp nhận các tài sản tài chính là
cổ phiếu và bất động sản.
Đối với nợ xấu có tài sản thế chấp là bất động sản, FV được tính là 95%
giá trị thị trường của bất động sản và được xác định bởi tổ chức định giá độc
lập và được cấp phép. Với cổ phiếu niêm yết, giá trị hợp lý phụ thuộc vào khối
lượng nắm giữ.
Khi FV cao hơn hoặc bằng với dư nợ gốc cộng nợ lãi, Danaharta mua theo
giá của nợ gốc cộng nợ lãi. Còn giá trị hợp lý thấp hơn giá trị của tổng nợ gốc
và lãi nhưng cao hơn hoặc bằng giá trị nợ gốc, giá mua là giá trị hợp lý. Nhưng
nếu giá trị hợp lý thấp hơn giá trị nợ gốc, giá mua sẽ là giá trị nợ gốc nhưng
Danaharta chỉ trả trước một khoản bằng với FV. (minh họa bằng bảng dưới đây).
Một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng giúp cho Danaharta thành công đó
là bởi nó được sự hậu thuẫn đặc biệt từ chính quyền Malaysia. Vào tháng 8/1998,
Luật Danaharta ra đời đem lại bộ khung pháp lý rất đặc biệt cho tổ chức này.
Đạo luật này cho phép Danaharta những đặc quyền mà không một tổ chức tài
chính nào có thể có được trong lịch sử ngành tài chính quốc gia, đó là: Mua lại
tài sản của các tổ chức tài chính; Bổ nhiệm lãnh đạo ở các tổ chức đang nợ; Và,
có quyền tịch biên những tài sản thế chấp.
Vậy Việt Nam
giải quyết nợ xấu bằng cách nào? Ngày 23/8/2013, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình
đã ký Quyết định số 1085/QĐ-NHNN ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân
hàng về xử lý nợ xấu. Kế hoạch hành động này nhằm triển khai thực hiện đề án
của Thủ tướng Chính phủ về “Xử lý nợ xấu của các TCTD” và đề án “thành lập
VAMC”. VAMC (Vietnam asset management company) là công cụ đặc biệt của Nhà nước
nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro
cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý
nền kinh tế. VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu
lợi nhuận; công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.
VAMC là doanh
nghiệp đặc thù, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, cơ chế tài chính và tiền lương
theo cơ chế của Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt.
Chính thức mua nợ xấu từ 1/10/2013, đến 31/12/2013, VAMC đã mua gần
39.000 tỷ đồng dư nợ gốc, vượt kế hoạch 35.000 tỷ đồng được giao. Sau khi mua,
VAMC đang thực hiện tổng hợp, phân loại và xây dựng danh mục các khoản nợ để có
thể chào bán ra thị trường trong nước và quốc tế trong thời gian tới.
Hoạt động mua, bán,
xử lý nợ xấu của VAMC nhận được sự quan tâm rất lớn từ các tổ chức tài chính
trong nước cũng như quốc tế. Trong quá trình hoạt động, VAMC đã có nhiều lượt
làm việc với các đoàn đại diện của những tổ chức tài chính quốc tế uy tín đến
trao đổi về khả năng hợp tác trong việc mua, bán nợ. Đây là cơ hội lớn đối với
VAMC nói riêng và đối với các tổ chức tài chính trong nước nói chung để học hỏi
kinh nghiệm quốc tế, vận dụng có hiệu quả vào thị trường Việt Nam.
Được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sự
ủng hộ của các Bộ, ngành và chính quyền trong cả nước; với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, có năng lực, phẩm chất
tốt, kinh nghiệm lâu
năm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, hoạt động của VAMC
đang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào sự phát
triển kinh tế đất nước.
(Sưu tầm)
Minh Phương (Ban Chuyên môn)
Bài liên quan

Comments[ 0 ]
Post a Comment